Trên thị trường có khá nhiều loại hạt vừng, chủ yếu được phân biệt qua màu sắc bao gồm: đen, nâu, nâu vàng, xám, vàng và trắng. Tuy nhiên, được sử dụng phổ biến nhất vẫn là vừng đen và vừng trắng.
Trong ẩm thực, vừng đen và vừng trắng cùng được sử dụng phổ biến trong nhiều món ăn khác nhau. Hạt vừng vừng trắng có vị ngọt và bùi chủ yếu được sử dụng trong các công thức nấu ăn có nguồn gốc phương Tây như bánh ngọt và các món tráng miệng khác. Hạt vừng đen có vị hơi đắng chủ yếu được sử dụng trong các món ăn có nguồn gốc phương Đông và dùng để sản xuất dầu vừng.
Trong cả y học thì cả y học cổ truyền và y học hiện đại đều ưu tiên sử dụng vừng đen. Y học cổ truyền cho rằng vừng đen có vị ngọt, tính bình, quy kinh Can, Thận. Cũng theo y học cổ truyền, vừng đen giúp bổ gan thận, bồi bổ tinh dịch, dưỡng huyết ích khí, làm đen tóc, mịn da, mạnh gân cốt, bổ hư, dưỡng ngũ tạng, thính tai, sáng mắt, rất tốt cho người thiếu máu, tóc bạc sớm, đặc biệt bổ dưỡng cho những người già, sản phụ thiếu sữa... Y học hiện đại cũng sử dụng chiết xuất vừng đen ở dạng dầu hoặc bào chế thành viên nang để bổ sung dưỡng chất.
Dù chưa được y học cổ truyền cũng như y học hiện đại chú ý đầy đủ nhưng những nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, vừng trắng cũng có khá nhiều lợi ích đối với sức khỏe như: giảm lipid máu, trì hoãn lão hóa.
#vừngđen #vừng trắng #mèđen #mètrắng
Тэги:
#Y_học_thường_thức #vừng_đen #vừng_đen_có_tác_dụng_gì #vừng_trắng #vừng_trắng_có_tác_dụng_gì #lợi_ích_đối_với_sức_khỏe_của_vừng #lợi_ích_đối_với_sức_khỏe_của_vừng_đen #lợi_ích_đối_với_sức_khỏe_của_vừng_trắng #vừng_đen_hay_vừng_trắng_tốt_hơn #mè #mè_đen #mè_trắng #mè_đen_có_tác_dụng_gì #mè_trắng_có_tác_dụng_gì #lợi_ích_đối_với_sức_khỏe_của_mè_đen #lợi_ích_đối_với_sức_khỏe_của_mè_trắng #mè_đen_hay_mè_trắng_tốt_hơn #dinh_dưỡng #chăm_sóc_sức_khỏe_tại_nhà